Nguồn tham khảo: Lê Đình Tùng, Nguyễn Thị Bình, Đỗ Thanh Hương, Lê Lan Hương, Nguyễn Thị Thuỳ Linh, Nguyễn Trường Sơn, Trần Thanh Tùng, Trần Thị Hương Lan, Vũ Nam Khánh, & Nguyễn Ngọc Sơn (2026). Kết quả học tập của sinh viên ngành y khoa theo các phương thức tuyển sinh tại Trường Đại học Y Hà Nội. Tạp chí Nghiên cứu Y học, 201(4), 725–733. https://doi.org/10.52852/tcncyh.v201i4.4882
Truy cập toàn văn: https://doi.org/10.52852/tcncyh.v201i4.4882
Tóm tắt nội dung
Nghiên cứu của Lê Đình Tùng và cộng sự (2026), đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Y học, xem xét kết quả học tập của sinh viên ngành Y khoa Trường Đại học Y Hà Nội có khác nhau theo phương thức tuyển sinh hay không, nhằm cung cấp căn cứ xây dựng chính sách tuyển sinh. Đây là nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu trên 796 sinh viên đang theo học, thuộc hai khoá trong giai đoạn 2021 – 2022. Xét kết quả thi tốt nghiệp trung học phổ thông là phương thức chiếm tỷ trọng lớn nhất (71,48%).
Năm 2021, nhóm xét tuyển kết hợp chứng chỉ ngoại ngữ có điểm trung bình năm nhất cao nhất, đạt 8,01/10. Ở cả hai khoá, trong ba phương thức được so sánh, sinh viên xét tuyển thẳng có kết quả học tập tốt nhất, lần lượt là 7,86 và 8,19. Nhóm tác giả kết luận phương thức tuyển sinh là yếu tố dự báo kết quả học tập của sinh viên ngành y khoa tại trường. Với bài toán dự báo sinh viên bỏ học ở trường đại học Việt Nam, bài cho thấy phương thức xét tuyển là thông tin có sẵn ngay khi nhập học và có liên hệ với điểm năm nhất, nên có thể mã hoá thành biến phân loại trong mô hình cảnh báo sớm, dù dữ liệu chỉ thuộc một ngành của một trường.
Luận điểm liên quan trong bài viết chính
Trong bài viết chính, tài liệu này được dẫn để làm rõ nhận định sau: Tại Trường Đại học Y Hà Nội, phương thức tuyển sinh là yếu tố dự báo kết quả học tập của sinh viên y khoa; sinh viên xét tuyển thẳng có kết quả tốt nhất ở cả hai khóa được khảo sát (Lê Đình Tùng và cộng sự, 2026).
Xem bài viết chính: Ứng dụng học máy phát hiện sinh viên có nguy cơ bỏ học: từ bài toán lớp thiểu số đến quyết định can thiệp